Top 18 phong tục tập quán độc đáo nhất của những dân tộc Việt Nam

10-11-2020 18 49357 1 0

Báo lỗi

Phong tục của những dân tộc thiểu số Việt Nam là cả một đề tài vô tận. Cả 54 dân tộc có biết bao nhiêu là truyền thống, văn hoá cũng đáng được biết đến. Những vẻ đẹp trong những bộ trang phục, những loại đồ uống, đồ ăn, cách thức thờ cúng, cách tổ chức ngày sinh nhật, những quy củ nề nếp trong ma chạy, cưới hỏi… là những thứ mang đậm ý nghĩa sâu sắc văn hoá truyền thống. Hãy theo chân Toplist để tìm hiểu những phong tục tập quán này nhé!

123456789101112131415161718

1


Nguyễn Mai

Tục bát canh rêu đá của người Thái

Rêu đá là một món ăn đặc sản của người Thái ở miền núi tây-bắc, Việt Nam. Đối với người Thái đây là món ăn không thể thiếu trên mâm cơm tiếp đãi khách quý cùng với măng chua, thịt gác bếp và cũng là món ăn không thể thiếu trong những ngày lễ của người dân ở đây. Thời điểm thường mọc của cây rêu đá là lúc chớm thu khoảng vào tháng ba âm lịch và chỉ được sử dụng chế biến món ăn trong vòng 2 đến 3 ngày vì rêu đá rất nhanh hỏng.


Canh rêu đá được chế biến như sau: rêu đá sau khi sử dụng chày đập nát và loại bỏ hết tạp chất sẽ cho vào nước luộc gà hoặc canh xương, khi ăn những bạn sẽ thấy rất bùi và ngậy. Rêu đá nướng hay nộm rêu đá… cũng đều là những món rất thơm ngon, đậm đà bản sắc dân tộc Thái.

Rêu đá ở Tây Bắc
Rêu đá ở tây-bắc
Bát canh rêu đá của người Thái
Bát canh rêu đá của người Thái


2


Nguyễn Mai

Lễ hội Xíp xí (Tết xíp xí) của người Thái, người Kháng

Lễ hội Xíp xí của người Thái, người Kháng tại vùng tây-bắc được tổ chức vào trong ngày 14 tháng 7 âm lịch hằng năm là một phong tục giống như ngày rằm tháng 7 của người Kinh. Lễ hội này được tổ chức với mục đích thể hiện tình yêu quê, lòng biết ơn với người đã khai phá tạo mường, lập bản. Đồng thời, việc tổ chức lễ hội này là một hành động đẹp đẽ của người Thái, người Kháng nhằm giữ gìn bản sắc đặc trưng của dân tộc.

Vịt là lễ vật gần như quan trọng nhất trong lễ hội Xíp Xí này, bởi người Thái và người Kháng quan niệm rằng loài vịt gắn liền với đồng ruộng, sống suối, đời sống của những người làm nông; cúng thịt vịt là để vịt ăn hết sâu bọ hại lúa và mang những điều xui xẻo trôi tuột theo dòng chảy của sông suối.

vào trong ngày Tết này, người người nhà nhà sẽ đến thăm nhau, chúc nhau những lời chúc đẹp đẽ bằng một thái độ niềm nở, hiếu khách. Phần hội của ngày Tết này có đa dạng những hoạt động cho người dân cùng vui chơi, như: hát chúc mừng, hát dạy làm người, hát bè trên sông, hát trao duyên, hát lúc ăn uống, lúc thăm hỏi nhau,…

Hãy thử một lần đến tây-bắc vào dịp tết Xíp Xí, những bạn sẽ cảm nhận được sự êm ấm, những nét đặc sắc, độc đáo, những giá trị tinh hoa còn được lưu giữ đến tận ngày nay trong những bản làng của người Thái, người Kháng.

Tết Xíp Xí của người Thái, người Kháng ở Tây Bắc
Tết Xíp Xí của người Thái, người Kháng ở tây-bắc
Mâm lễ vật cúng trong ngày Tết Xíp xí
Mâm lễ vật cúng trong ngày Tết Xíp xí

3


Nguyễn Mai

“Củi hứa hôn” và phong tục cưới hỏi của người Giẻ Triêng

Những cô nàng Giẻ Triêng khi đến tuổi cập kê, nếu được một chàng trai mà mình vừa lòng cầu hôn và muốn lấy người đó làm ông xã thì thường lên rừng tìm những cây gỗ tốt đốn bằng nhau, phơi khô và cõng về nhà xếp ngay ngắn ở đầu nhà, hoặc trước sân và được che chắn cẩn trọng để chuẩn bị cho “ngày lành tháng tốt” cõng đến nhà trai. Những bó củi đó được gọi là củi hứa hôn của người Giẻ Triêng.

không những cõng củi cho gia đình nhà ông xã mà còn mang cho cả anh ông xã, chị ruột của ông xã đã xây dựng gia đình và ở riêng. Mang đến mỗi gia đình như vậy khoảng 20 đến 30 bó, còn nhà trai thường làm thịt 60 đến 70 con chim, con chuột để tiếp đãi khi nhà gái cõng củi đến nhà mình. Ngoài ra nhà trai còn tặng quần áo cho những người cõng củi đến để thay lời cảm ơn. Sau hôm cõng củi và lễ mời cơm ấy, họ hàng hai bên mới chính thức trở hành “sui gia”, tiếp tục đi lại thăm hỏi nhau theo phong tục của người Việt Nam.

Những bó củi đó được gọi là
Những bó củi đó được gọi là “củi hứa hôn” của người Giẻ Triêng
Người Giẻ Triêng cõng
Người Giẻ Triêng cõng “củi hứa hôn”

4


Nguyễn Mai

Lễ ăn cơm mới của người Xá Phó

Lễ ăn cơm mới hay còn gọi là Tết cơm mới của người Xá Phó cũng ra mắt trong 3 ngày chính như trong ngày Tết cổ truyền của toàn nước:

  • Ngày trước tiên: người lớn tuổi nhất trong nhà phải dựng một ngôi sàn nhỏ trên nương, bày một hòn đá, ba chén rượu, ba đôi đũa, một quả trứng gà luộc, ba sợi chỉ trắng và một nắm cơm rồi khấn thần lúa. Sau đó một mình đi gặt một vài cụm lúa mới để đem về cúng tổ tiên và trước khi về người gặt sẽ cắm một chiếc ta leo để cấm người lạ.
  • Ngày thứ 2: không thể là một người đi gặt nữa mà là cả hai vợ ông xã chủ nhà cùng ra đồng cắt lúa nhưng không được nói với nhau câu gì và mỗi người sẽ gặt đủ 15 bó lúa về để cúng.
  • Ngày thứ 3: cả nhà cùng nhau đi gặt nhưng cũng trong sự im lặng. Chỉ khi lúa gặt xong chủ nhà rút ta leo lên thì mọi người mới được nói chuyện thoải mái với nhau.

Sau 3 ngày lễ, chính chủ nhà sẽ làm cơm tiếp đãi mọi người, dân làng sẽ đến ăn cơm mới của gia đình. Lúc này lễ hội ăn cơm mới coi như là kết thúc.

Tết cơm mới của người Xá Phó
Tết cơm mới của người Xá Phó
Tết cơm mới của người Xá Phó
Tết cơm mới của người Xá Phó

5


Nguyễn Mai

Tín ngưỡng phồn thực quanh vùng Đền Hùng

Hàng năm vào xuân thu nhị kỳ, những làng xung quanh đền Hùng đều mở hội với mục đích là cầu mong mùa màng, con người, con của được sinh sôi nảy nở cho đông đàn dài lũ, ngô lúa đầy cót đầy bồ. Lễ hội đó đó là phồn thực – là tín ngưỡng của những xã hội trồng lúc nước.

Để giải thích một cách đơn giản, dễ hiểu thì ‘phồn thực’ đó là từ nói về sự sự sinh trưởng, sinh sôi nảy nở. Mà vật tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở đó là ‘nõ nường’. ‘Nõn’ chỉ dương vật của người đàn ông và ‘nường’ chỉ âm hộ của người phụ nữ. Do vậy, quanh đền Hùng có nhiều làng thờ sinh thực khí – hình tượng chung của tín ngưỡng phồn thực.

Quanh đền Hùng có nhiều làng thờ sinh thực khí
Quanh đền Hùng có nhiều làng thờ sinh thực khí
Tín ngưỡng phồn thực
Tín ngưỡng phồn thực

6


Nguyễn Mai

Tục thổi khèn tìm bạn tình ở chợ tình Sa Pa

Phần lớn những dân tộc như Mông, Tày, Giáy,… đều cư trú tại Sa Pa và sống dọc theo thung lũng Mường Hoa, nơi mà con sông Mường Hoa được bắt nguồn từ những con suối nhỏ từ đỉnh núi Phan-xi-păng. Phiên chợ tình này thường ra mắt vào Chủ Nhật mỗi tuần và nằm ở vị trí khá xa trung tâm thị trấn. Lúc trước con đường dẫn đến phiên chợ này khá hiểm trở, chỉ dành riêng cho người đi bộ và gia súc. Vì vậy, để đến được chợ bằng đường mòn thì phải mất đến tận nửa ngày. Những người đi du lịch hay người sống ở trung tâm thị trấn nếu muốn tham quan chợ tình đều phải bắt đầu đi từ ngày hôm trước (tức ngày thứ bảy).

Đêm thứ bảy đến rạng sáng Chủ Nhật, nơi phiên chợ thường rất ồn ào và náo nhiệt bởi có sự góp vui của những người già đi dạo, tán chuyện cùng nhau và lớp trẻ vui chơi cùng nhau, tạo thành thời điểm để hai con người rất có thể tiếp xúc, làm quen với nhau. Điểm đặc biệt là người ở đây thổ lộ tình cảm của tớ trải qua tiếng khèn, tiếng sáo của họ.

Tuy nhiên, theo thời gian, chính vì sự đổi mới không ngừng nghỉ của xã hội và chợ tình đã mất đi vẻ đẹp vốn có của nó, không thể không khí trong trẻo, truyền thống như ngày xưa.

Nhưng không vì thế mà chợ tình Sa Pa không thể là một điểm đáng đến. Tuy mất đi vẻ đẹp xưa cũ nhưng chợ tình của ngày nay cũng còn rất đậm chất Sa Pa. Nếu có dịp đi du lịch Sa Pa vào những ngày vào cuối tuần thì bạn nên đi chợ tình một lần. Chợ tình đã thú vị rất nhiều khách du lịch với những món đồ thổ cẩm rất đẹp được bày bán. Hơn nữa vào những ngày này những bạn sẽ được nghe tiếng khèn rất hay lay động lòng người của những chàng trai đã đi vào tuổi cập kê dùng tiếng khèn của tớ để tìm bạn nữ.

Và đôi khi người dân Sa Pa cũng dùng tiếng khèn để giải trí sau những ngày làm việc vất vả. Tiếng khèn Sa Pa là một nét đẹp văn hóa của người H’mông và cần phải trân trọng.

Thổi khèn ở chợ tình Sapa
Thổi khèn ở chợ tình Sapa
Chợ tình Sa Pa
Chợ tình Sa Pa

7


Nguyễn Mai

Tục bó vỏ ống cơm lam của tây-bắc, Đông Bắc Việt Nam

Cơm lam là loại cơm có nguyên liệu chủ yếu là gạo (thường là gạo nếp). toàn bộ những nguyên liệu được bỏ vào ống tre, ống giang hoặc ống nứa rồi được nướng chín trên lửa. Cơm lam có vị thơm đậm, dẻo và ngọt. Đây là một món ăn đặc trưng của những dân tộc vùng tây-bắc và Đông Bắc Việt Nam.

Cơm lam thoạt nhìn bề ngoài thì chỉ đơn giản là cơm được đặt trong ống tre, nứa. Nhưng để nói về quy trình làm ra một ống cơm lam thì lại không hề đơn giản chút nào. Công thức, nguyên liệu tuy ít, không đòi hòi quá nhiều thứ nhưng bước chọn lựa nguyên liệu, canh thời gian lại đòi hỏi sự khéo léo của người nấu:

– Chọn ống tre, nứa tươi, không quá non hoặc quá già, thích hợp nhất là từ tháng 10 đến tháng 1. Ống tre, nứa còn tươi, đem về chặt chia ra mỗi đốt thành một ống lam.
– Chọn gạo nếp. Đây là khâu rất quan trọng vì nó quyết định độ dẻo độ ngon của cơm lam. Muốn cơm lam ngon phải chọn gạo nương mới gặt và phải đúng loại gạo nương có hạt to, mẩy, trắng và có mùi thơm.
– Vo gạo cho thật sạch rồi ngâm nước khoảng 5 đến 6 tiếng, vớt ra để ráo nước.

– Đổ gạo vào ống nứa, đổ nước vào ống cho ngập gạo. Không nên đổ gạo đầy ống mà phải để cách miệng một ít khi gạo chín sẽ nở ra kín miệng ống.
– Lấy lá chuối hoặc lá dong đậy kín miệng ống rồi cho vào bếp lửa nướng. Khi nướng phải xoay ống nứa liên tục, không cho ống lam quá cháy và để hạt gạo chín đều. Đến khi có hơi nước bốc ra từ miệng ống và có mùi thơm của cơm tức là cơm lam đã chín.
– Khi cơm chín đem chẻ lớp vỏ phía bên ngoài để lại lớp lạt mỏng, khi ăn mới bóc vỏ. Cơm lam rất có thể chấm với muối vừng hoặc nam phrik (nước chấm pha loãng có vị cay của ớt, là loại nước chấm kiểu Thái), hai loại nước chấm này sẽ góp phần tăng thêm độ thơm ngon của cơm lam.

Những người con gái mới sinh xong đang ở cữ khi ăn cơm lam xong không được vứt ống đi mà bó vỏ ống lại cùng với nhau của đứa trẻ với mong muốn đứa trẻ sinh ra ở trần gian sẽ được bảo vệ khỏe mạnh và khi chết đi sẽ được đưa lên thiên đường hưởng cuộc sống tươi đẹp

Cơm lam của Tây Bắc, Đông Bắc Việt Nam
Cơm lam của tây-bắc, Đông Bắc Việt Nam
Cơm lam của Tây Bắc, Đông Bắc Việt Nam
Cơm lam của tây-bắc, Đông Bắc Việt Nam

8


Nguyễn Mai

Tục ra gà – Một nét văn hóa ở Chu Hóa

Tục ra gà là tập tục ở xã Chu Hóa, Lâm Thao, Phú Thọ. Đây là tập tục đã có từ thời phong kiến, được triển khai vào Tết âm lịch hằng năm dành riêng cho những bé trai sẽ được sinh ra trong năm đó. Sau khi hoà bình lập lại, tục ra gà bị quên lãng. Nhưng từ khoảng 20 năm trở về đây thì tập tục này đã dần được hồi sinh và lại trở thành một trong những tập tục đặc trưng của con người ở Phú Thọ mỗi đầu năm mới mới.

Tục ra gà được làng Thượng và làng Hạ duy trì và bảo tồn, được triển khai vào mùng 5 Tết. Gia đình nào có con trai (gọi là Đinh) sẽ chọn một con gà trống tầm 3-4kg (không được chọn gà trống thiến) đem nhốt vào lồng rồi cho ặn ngày 3 bữa với cơm nóng trộn cám loại 1. Đến đúng mùng 5 Tết, gia chủ sẽ bắt gà ra và mổ, thổi xôi rồi làm lễ gánh ra đình làng. Lễ cúng tại đình bắt đầu từ 1 giờ sáng, một cụ già hoặc một người lớn tuổi nhất trong những gia đình sẽ đứng ra làm những bước cúng lễ. Lễ được cúng xong thì vừa khít lúc trời sáng, lúc bấy giờ, mọi người sẽ tổ chức thi xem con gà của nhà nào đẹp mắt và to chắc nhất. Bởi người dân ở đây tin rằng con gà cúng càng khoẻ mạnh, to chắc thì bé trai khi được sinh ra sẽ có sức khoẻ càng dẻo dai. sau cùng, dân làng cùng nhau tụ họp lại hưởng lộc ngay tại đình.

Ngày nay, không những người ở hai làng Thượng và làng Hạ mới được tổ chức lễ ra gà, mà trong cả người ở nơi khác, bất kì đâu trên giang sơn đều rất có thể làm lễ này để đón chào thành viên mới chào đời.

Tục ra gà ở Phú Thọ mang đậm tính tín ngưỡng thờ Phật tại đình làng của người Việt Cổ. bằng phương pháp triển khai tập tục này, có vẻ như con người lúc vừa được sinh ra đã gắn liền với truyền thống, phong tục của dân tộc, của quê. Đây không những là một nét đẹp truyền thống của một làng quê mà còn là một trong những tập tục đậm bản sắc của một vùng cần phải bảo tồn và duy trì.

Tục ra gà ở Phú Thọ
Tục ra gà ở Phú Thọ
Tục ra gà ở Phú Thọ
Tục ra gà ở Phú Thọ

9


Nguyễn Mai

Tục lệ uống rượu cần

Tục uống rượu cần là một loại đồ uống phổ biến và không thay đổi của những người dân bản địa vùng Tây Nguyên. Uống rượu cần từ lâu trở thành một phần trong phong tục, tập quán của người dân nơi đây. Rượu cần phải coi là loại rượu quý, chỉ được dùng vào những ngày lễ tế thần linh, hội làng hay để đãi khách.

Vào những ngày lễ hội, rượu được mang ra để thưởng thức bằng phương pháp đặt vào trong bình nhiều vòi hút nhỏ. Mọi người ngồi theo vòng và lần lượt từng người uống một. Khi rượu trong bình lớn vơi đi sẽ được đổ thêm nước vào. Vì vậy khi uống những ngụm rượu cần trước tiên, ta cảm thấy vị nồng mạnh mẽ hơn là những ngụm rượu lúc sau.


Rượu cần là một thứ rượu ngọt và thơm, không khiến người ta say và lại khơi lên nỗi nhớ. Nếu có dịp thưởng thức loại rượu này một lần, có lẽ những bạn sẽ không thể quên được hương vị của nó.

Tục uống rượu cần ở Tây Nguyên
Tục uống rượu cần ở Tây Nguyên
Tục uống rượu cần ở Tây Nguyên
Tục uống rượu cần ở Tây Nguyên

10


Nguyễn Anh

Tục trao vòng cầu hôn của người Ê đê

Trai gái Ê Đê khi đã yêu nhau, muốn nên duyên vợ ông xã liền báo cho gia đình biết để sắp xếp lễ đính hôn. Gia đình bên gái nhờ ông đăm đai (ông cậu) sang nhà trai đặt vấn đề xin cưới, hẹn ngày gặp và chuẩn bị trao vòng (trôk kôông). Đến ngày hẹn, họ hàng nhà gái đến nhà trai làm lễ. Hai già làng có uy tín đại diện hai bên bàn thảo. Mỗi bên đại diện đặt trên chiếu một chiếc vòng bạc. Khi hoàn toàn đồng ý, họ cầm vòng lên trao cho đôi nam nữ. Chàng trai và cô nàng yêu nhau mỗi người đeo một chiếc vòng ấy. Và sau là đến việc tổ chức lễ cưới.

Trường hợp chàng trai bội ước, không làm lễ cưới, thì anh ta phải trả cho cô nàng một khoản phạt bằng hiện vật, và làm cho cô nàng một lễ hiến sinh (một con lợn).

Tục trao vòng cầu hôn của người Ê đê
Tục trao vòng cầu hôn của người Ê đê
Tục trao vòng cầu hôn của người Ê đê
Tục trao vòng cầu hôn của người Ê đê

11


Nguyễn Anh

Tục bắt vợ của người Mông

Ở miền Tây TP Nghệ An, tục bắt vợ vẫn được đồng bào ở đây lưu giữ như một nét văn hóa độc đáo của dân tộc mình. Đối với người Mông xứ Nghệ, bắt vợ là nâng cao giá trị của người phụ nữ.

Tục bắt vợ của người Mông có tự lúc nào, chẳng ai còn nhớ nữa. Chỉ biết rằng, đến tuổi cập kê, trai gái hò hẹn trên nương, trên những sườn núi 4 mùa bung nở đủ những loại hoa rừng. Mùa xuân là mùa hò hẹn, khi tình yêu đủ chín, người Mông sẽ làm lễ cưới. Nhưng trước khi lễ cưới chính thức ra mắt, những cặp đôi người Mông sẽ phải trải qua một “nghi lễ” hết sức đặc biệt: những chàng trai sẽ tìm cách bắt và đưa cô nàng mình thương về nhà.

Đối với người Mông, tục bắt vợ còn là cách để những chàng trai thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của tớ. Khi chàng trai yêu cô nàng và được cô nàng đáp lại tình cảm, việc tiến tới hôn nhân là chuyện được cả hai bàn tới. Tuy nhiên, việc “bắt vợ” sẽ được chàng trai giấu kín, lặng lẽ lên kế hoạch triển khai cùng với sự hỗ trợ của những bạn mình.

Việc kéo vợ về cũng phải rất khéo léo để chân cô nàng không chạm đất, không tồn tại lực giằng co, không đánh trả được, miệng không cắn lại được mà không khiến thương tích cho cô nàng. Chàng trai sau khi bắt vợ về sẽ giữ vợ trong nhà ba ngày rồi mới đến thông báo chính thức cho nhà gái rằng con gái họ đã là vợ chàng trai. Theo quan niệm, đám bắt nào càng nhiều bè bạn tham gia giúp, kéo càng quyết liệt, thì đôi vợ ông xã đó càng hạnh phúc và sống lâu, càng đông con, nhiều của…

Nhưng từ lâu, tục lệ này đã bị biến tướng thành hủ tục. lúc đầu, thực chất của tục lệ là dành riêng cho những đôi nam nữ yêu nhau mà Trong số đó, người con trai tha thiết yêu thương và muốn cưới người con gái về làm vợ mình. Và trong quy trình “bắt vợ” cũng không được dùng vũ lực hay áp bức cô nàng. Tuy nhiên, cho tới hiện nay, tục bắt vợ không thể được triển khai dựa trên thực chất đó nữa. Nó trở thành hủ tục cũng chính vì chịu sự tác động từ tục làm nương – nguời phụ nữ sau khi được cưới về nhà ông xã thì thường trở thành lao động chính. Vì muốn con mình có thêm kẻ hầu người hạ, muốn con mình ngơi tay, không phải làm việc mà nhiều bậc cha mẹ trong những gia đình dân tộc Mông mặc kệ con mình vẫn chưa đủ tuổi trưởng thành đã vội vàng đi “bắt vợ” giúp con, và lại là bằng phương pháp sử dụng vũ lực, ép buộc. Dù cho cô nàng có không cam tâm đến thế nào thì cũng không thể quay trở về nhà được nữa bởi người Mông đã có một tục lệ rằng con gái mà đã ở lại trong nhà con trai một đêm rồi thì vĩnh viễn không được quay trở về nhà cha mẹ đẻ. Nếu dựa theo pháp lý hiện nay để định nghĩa thì tục bắt vợ đó là hành vi cưỡng ép kết hôn và bắt giữ người trái pháp lý. Hiển nhiên, việc này cần phải xử lí theo quy định của pháp lý.

Tục bắt vợ của người H'Mông
Tục bắt vợ của người H’Mông
Tục bắt vợ của người H'Mông
Tục bắt vợ của người H’Mông

12


Nguyễn Anh

Tục đi ăn trộm lấy may của người Lô Lô

Đi ăn trộm lấy may trong đêm giao thừa là tục lệ khá kỳ lạ của người dân tộc Lô Lô huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.

Người Lô Lô tin rằng, ở thời điểm chuyển giao từ năm cũ sang năm mới, nếu ai đó mang về được một chiếc gì đó thì gia đình sẽ gặp nhiều điều tốt lành, ăn nên làm ra. Chính vì thế, việc ăn trộm trong đêm giao thừa được người Lô Lô coi là đi lấy may. Một điều thú vị là khi đi… lấy trộm vào đêm giao thừa, người Lô Lô đi đúng nghĩa “ăn trộm”, lặng lẽ, không rủ nhau, không để chủ nhà bắt được. Và đã trộm là phải trộm “tận gốc”, như nhổ tỏi thì không nên để bị đứt.

Tuy nhiên, tục ăn trộm lấy may này thực chất không đáng diệt trừ như cái tên “ăn trộm”. Người Lô Lô khi đi ăn trộm lấy may không lấy nhiều, không lấy đồ có giá trị mà chỉ lấy những thứ như hành, tỏi, rau,…

Trong đêm giao thừa ở những bản làng của người Lô Lô thì nhà nhà “ăn trộm”, người người là “kẻ trộm”, mặc dù là ăn trộm, song chẳng pháp lý nào can thiệp đến và nó trở thành một phong tục đón Tết không thể thiếu của người Lô Lô.

Tục đi ăn trộm lấy may của người Lô Lô
Tục đi ăn trộm lấy may của người Lô Lô
Tục đi ăn trộm lấy may của người Lô Lô
Tục đi ăn trộm lấy may của người Lô Lô

13


Nguyễn Anh

Tục “bắt ông xã” của người Chu Ru, Cơ Ho,…

Mùa xuân, những dân tộc Chu Ru, Cơ Ho, Cil , Giẻ Triêng….ở Tây Nguyên vào mùa lễ hội “bắt ông xã. Tục bắt ông xã của người Tây Nguyên có nét tương tự như với tục cướp vợ của đồng bào miền núi phía Bắc, chỉ có điều ở đây ngược lại, người phụ nữ đi “bắt ông xã” chứ không phải là người đàn ông đi “bắt vợ”. Củi là một trong những lễ vật “bắt ông xã”của người Tây Nguyên.

Khi Tết Nguyên Đán đến, đồng bào những dân tộc Chu Ru, Cil, Cơ Ho… ở Tây Nguyên vào mùa lễ hội bắt ông xã. Lễ bắt ông xã phải ra mắt đêm hôm. Khi thích một chàng trai nào đó, cô nàng về thông báo cho gia đình và dòng họ biết. Gia đình sẽ đến nhà trai hỏi dạm. Nếu cả hai dòng họ đồng ý, cô nàng sẽ đến đeo nhẫn vào tay người con trai vào một đêm đẹp trời. Trường hợp người con trai không thích rất có thể trả lại nhưng đến 7 ngày sau, cô nàng lại chọn một đêm đẹp trời đến đeo nhẫn cho chàng trai và cứ thế lặp đi lặp lại cho tới khi chàng trai đồng ý.

Trước khi cưới một ngày, buôn làng tổ chức một đêm hội gọi là “Đêm hội bắt ông xã”. Trong đêm hội này, chàng trai và cô nàng phải đọc một số câu luật tục riêng của đồng bào mình, có một số câu luật độc đáo như: “Tìm vợ, tìm ông xã phải hỏi mẹ cha; ăn ruộng, ăn rẫy phải hỏi tai con trâu, con bò; làm bẫy phải hỏi thần núi; về với vợ như về với nước…”. Ngày cưới chàng trai và cô nàng rút nhẫn ra, hôn nhẫn và đeo lại cho nhau. Sau lễ cưới 7 ngày, cô nàng tháo nhẫn đưa mẹ ông xã cất giữ và ngược lại nhẫn chàng trai do mẹ cô nàng cất giữ.

những dân tộc triển khai tập tục này đa phần đều là những dân tộc theo chính sách mẫu hệ. Cho nên, sau khi người đàn ông được “bắt” về nhà vợ sẽ không tồn tại quyền hành gì trong gia đình.

Tục bắt chồng của một số dân tộc ở Tây Nguyên
Tục bắt ông xã của một số dân tộc ở Tây Nguyên
Tục bắt chồng của một số dân tộc ở Tây Nguyên
Tục bắt ông xã của một số dân tộc ở Tây Nguyên

14


Nguyễn Anh

Tục ngủ thăm của người Thái, Mông, Dao, Mường

Đồng bào thuộc những dân tộc thiểu số ở Thanh Hoá như Thái, Mông, Dao Mường có một phong tục rất đặc trưng và thú vị là tục ngủ thăm, nhằm để cưới được vợ. Lệ này được cho phép những chàng trai đến “ngủ thăm” nhà cô nàng mà họ vừa lòng.

những cô nàng khi đã đi vào tuổi trưởng thành, tối đến sẽ đốt một ngọn đèn trong buồng mình, thả màn sớm, nằm đợi chàng trai vừa lòng mình đến “ngủ thăm”. Nếu đèn trong buồng cô nàng còn sáng, tức là vẫn chưa tồn tại ai đến “ngủ thăm”, chàng trai rất có thể vào. Tuy nhiên, chàng trai phải tự cạy cửa vào chứ không ai trong nhà cô nàng mở cửa cho. Khi vào buồng cô nàng, hai người sẽ nằm cạnh nhau theo kiểu “chung chăn, chung gối”. Nhưng đặc biệt là, hai người sẽ không được động chạm vào nhau, chỉ nằm cạnh và trò chuyện với nhau. Sau 5-6 lần chàng trai đến “ngủ thăm”, cô nàng có quyền quyết định xem chàng trai có được phép đến “ngủ thật” hay không.

Khi đã quyết định cùng “ngủ thật”, chàng trai và cô nàng phải thưa chuyện với hai bên gia đình để họ xem coi hai người có hợp tuổi không. Nếu hợp thì thời gian “ngủ thật” bắt đầu. Đó cũng là lúc chàng trai phải đến làm công cho nhà cô nàng. Sáng đi làm, tối về ngủ chung với cô nàng mình thương. Trong quãng thời gian “ngủ thật”, chàng trai không được về nhà cha mẹ đẻ, nếu muốn về thì phải được sự được cho phép của gia đình cô nàng. Nếu sau thời gian “ngủ thật”, cô nàng cảm thấy không thể tình cảm với chàng trai, cô sẽ gói ghém quần áo của chàng trai cho vào địu cùng một gói cơm nắm và bảo:”Anh cứ về thôi!”. Điều đó có tức là chàng trai đã không lọt vào mắt xanh của cô nàng.

Để được qua ngủ thăm ở bên nhà gái, người con trai phải được gia đình nhà gái chấp thuận, nếu như nhà gái chê người con trai thì sẽ khuyên bảo con gái mình không được cưới. Nếu cô nàng vẫn nhất quyết một mực đòi cưới, thì gia đình nhà gái vẫn phải miễn cưỡng đồng ý.

Qua thời gian, buôn Thái đã đổi thay biến tập tục “ngủ thăm” đến “ngủ thật”
Qua thời gian, buôn Thái đã đổi thay biến tập tục “ngủ thăm” đến “ngủ thật”
Đêm chọc gầm sàn, đến ngủ thăm nhà người con gái
Đêm chọc gầm sàn, đến ngủ thăm nhà người con gái

15


Nguyễn Anh

Tục ngủ duông của người Cơ tu

Ở người Cơ Tu còn tồn tại một phong tục mà chỉ ở dân tộc này mới có, đó là tục ngủ duông (lướt zướng). Tục ngủ duông là một thông điệp gửi gắm những mối tình trai gái Cơ Tu nên vợ nên ông xã để hôm nay nó vẫn tồn tại đấy trường tồn mãi với thời gian.

Nhà ngủ duông được làm ở nương rẫy hoặc ở bìa rừng, gọi là nhà nhưng thực chất đây là một chòi được làm bằng những vật liệu tạm bằng cây lá. Sự tồn tại của ngôi nhà này cả làng đều biết và được người Cơ Tu gọi là nhà ngủ duông.

Tuỳ ở mỗi đôi nam nữ Cơ Tu mà ngủ duông rất có thể nối dài từ 3 đến 5 đêm hoặc hơn thế nữa để họ tự do tìm hiểu mà không phải lén lút, thầm kín… Trước khi cưới được người mà mình thực sự vừa lòng, không thiếu những người con trai và thậm chí là con gái đã từng ngủ duông với không ít người.

Tuy đôi nam nữ có quyền tự do tìm hiểu nhưng luật tục Cơ tu cũng quy định rất rõ và rất nghiêm khắc xử lý những trường hợp quan hệ tình dục bừa bãi hoặc có thai trước khi cưới. Nếu trường hợp này xảy ra, tuỳ ở mức độ vi phạm, thường thì chàng trai bị phạt rất nặng, làng bắt người con trai đó phải giết heo có khi là trâu, bò mang từng phần đến từng gia đình trong làng để tự tự thú và chia cho cả làng cùng ăn. Đôi khi phải đền bù cho nhà gái nào là ché, chiêng, đồ trang sức đẹp quý… hoặc phải chịu nợ truyền kiếp từ đời này sang đời khác và đôi khi bị xã hội ruồng bỏ không ai tiếp xúc. Còn đối với cô nàng mang thai trước khi cưới sẽ bị đuổi ra khỏi bản làng, phải sống trong rừng sâu và không được giao tiếp hay tiếp xúc với ai. Hình phạt nặng nề này đã có từ xa xưa, nó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người Cơ Tu. Vì thế, nam nữ Cơ Tu mỗi khi triển khai tục ngủ duông đều biết giữ chừng mực, tôn trọng lẫn nhau, giữ vững giá trị của bản thân và tuân theo những giá trị đạo đức của dân tộc mình.

Người Cơ Tu
Người Cơ Tu
Nguời Cơ Tu
Nguời Cơ Tu

16


Nguyễn Anh

Tục nhảy lửa của người Pà Thẻn

Lễ hội nhảy lửa hay tục nhảy lửa của người Pà Thẻn ở Hà Giang là một hoạt động văn hoá mang tính tâm linh, với mục đích là thể hiện sức mạnh cùng ý chí phi thường, dám đương đầu với nguy hiểm, xua đuổi được tà ma và bệnh tật. Lễ hội này thường ra mắt vào cuối năm, khi mà mùa đông đang ở giai đoạn khắc nghiệt nhất.

Bắt đầu cho lễ hội nhảy lửa này là phần lễ. Thầy mo sẽ ngồi trên một chiếc ghế dài để cúng thần linh, gõ vào hai vật bằng sắt, tạo ra những âm thanh gấp gáp, liên tục. Việc cúng thần này nhằm tạo thành sức mạnh phi thường cho những con người Pà Thẻn, để họ rất có thể nhảy vào lửa. Thông thường, phần cúng lễ sẽ được bắt đầu trước phần hội ít nhất là 4 tiếng đồng hồ. Đống lửa mang lại sự êm ấm cho mọi người, đồng thời cũng là biểu trưng cho buổi ăn mừng một mùa vụ hoa màu vừa kết thúc, thần linh phù hộ nhân dân sống an khang thịnh vượng, xua đuổi tà ma, bệnh tật.

Khi đến phần hội, những thanh niên Pà Thẻn bắt đầu tụ họp xung quanh thầy mo, tiếng gõ của thầy mo ngày một gấp gáp hơn. Trong phút chốc, họ run bầng bậc và bắt đầu nhảy lên nhảy xuống. trong những khi đó, có một người thanh niên khác chạy vòng vòng quanh sân, thỉnh thoảng lại nhặt một cục than còn đỏ lên và cho vào miệng ăn. Đến một lúc nhất định, người này mới bước vào vòng lửa.

Họ dùng tay trần bốc lửa, nhảy trên những cục than còn đò rực bằng chân trần, có những người còn nằm hẳn trên đống lửa rồi mới nhảy ra ngoài. Những người khác đứng ở ngoài ngắm nhìn, cổ vũ bằng những tiếng reo hò, tán dương.

Lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn
Lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn
Lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn
Lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn

17


Nguyễn Anh

Tục xăm cằm của người Mảng

Người Mảng (Lai Châu) có tục lệ xăm cằm cho nam nữ thanh niên ở độ tuổi 12-18, ghi lại sự trưởng thành của một con người trong xã hội. Tục xăm cằm tượng trưng cho sức mạnh của đấng vô thượng che chở, giúp đỡ cho con người trước trái đất siêu nhiên cũng như cầu mong đức tính hiền dịu, đảm đang cho người phụ nữ.

Người được xăm cằm cảm thấy tự hào, vui vẻ vì biết được sau nghi thức này mình trở thành người trưởng thành, có tiếng nói trong xã hội, dòng tộc, được mọi người tôn trọng hơn

Tục xăm cằm của người Mảng
Tục xăm cằm của người Mảng
Người Mảng
Người Mảng

18


Nguyễn Anh

Tục khóc trâu của người Cơ tu

Vào dịp mùa lua mới, nhà nào cũng chuẩn bị sẵn một vài món ngon, sau lễ đâm trâu, mang đến nhà gươi góp, tổ chức ăn uống linh đình trong suốt một tuần và nghi thức đâm trâu cũng có thể có nhiều luật tục phức tạp hơn lúc bấy giờ, Trong số đó có nghi thức khóc trâu trong lễ đâm trâu.

Màn tế, khóc trâu, nghi thức khóc trâu do một người già có vai vế trong làng, có năng khiếu về nói lý, hát lý, đại diện cho dân làng ra đứng gần bên con trâu mà than khóc. Nội dung khóc tế trâu nói lên tình cảm, thương tiếc con vật đã suốt đời gắn bó, phục vụ con người, nay lại làm vật hiến sinh cúng thần.

Giữa đêm khuya tĩnh lặng của rừng núi âm u với vài ngọn lửa le lói cháy giữa sân gươi, 5-6 người ngồi vừa tế, vừa đánh trống ngắt nhịp kèm theo lời ai oán, não nề, không gian lúc này rất thiêng liêng, u tịch. Theo những già làng, nhiều con trâu nghe và hiểu tiếng người khóc đã chảy nước mắt theo người tế.

Sau nghi thức “khóc trâu, tốp đàn ông, thanh niên, phụ nữ Cơ Tu mang trống chiêng, gươm, giáo… nhảy múa vòng quanh trụ gươi với vũ điệu múa Tung tung – Za zá. Cánh đàn ông múa gươm oai hùng, phụ nữ thì múa rất uyển chuyển.

Sau buổi nhảy múa, mọi người bắt đầu lễ đâm trâu. Đồng bào Cơ Tu cắt đầu trâu rồi đặt sát trụ gươi cùng với cùng 1 hũ rượu để cúng trời, đất, tổ tiên, ông bà; thân trâu được mổ và chia đều cho từng hộ dân làng. Buổi chiều, sau khi già làng khấn vái xong lễ, họ mang đầu trâu đi làm sạch, nấu cho những người có công trong việc tổ chức lễ hội ăn uống ngày hôm sau.

Lễ đâm trâu được thực hiện sau khi hoàn thành lễ khóc trâu
Lễ đâm trâu được triển khai sau khi hoàn thành lễ khóc trâu
Lễ khóc trâu của người Cơ Tu
Lễ khóc trâu của người Cơ Tu

Từ khóa: Top 18 phong tục tập quán độc đáo nhất của những dân tộc Việt Nam, Top 18 phong tục tập quán độc đáo nhất của những dân tộc Việt Nam, Top 18 phong tục tập quán độc đáo nhất của những dân tộc Việt Nam

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *